22/09/2026 2:46:08

GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT THÁNG 9/2026

Câu 1.

Luật Công đoàn số 50/2024/QH15 và Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện Dân chủ ở cơ sở quy định về tài chính công đoàn như thế nào?

Trả lời:

Điều 29 Luật Công đoàn số 50/2024/QH15 và Khoản 8, Điều 2 Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện Dân chủ ở cơ sở quy định về tài chính công đoàn  như sau:

“Điều 29. Tài chính công đoàn

1. Nguồn tài chính công đoàn bao gồm:

a) Đoàn phí công đoàn do đoàn viên công đoàn đóng theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam;

b) Kinh phí công đoàn do doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động;

c) Ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;

d) Nguồn thu khác từ hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động kinh tế của Công đoàn; từ đề án, dự án do Nhà nước giao; từ viện trợ, tài trợ hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.

2. Chính phủ quy định phương thức, thời hạn và nguồn đóng kinh phí công đoàn; trường hợp không đóng hoặc chậm đóng kinh phí công đoàn; đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; nội dung ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ quy định tại điểm c khoản 1 Điều này”.

Câu 2.

Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp được quy định như thế nào?

Trả lời:

Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại Điều 49, Điều 50, Điều 51 và Điều 52 Luật Việc làm năm 2025 (74/2025/QH15 ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2025) như sau:

“Điều 49. Quyền khiếu nại về bảo hiểm thất nghiệp

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Điều 50. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về bảo hiểm thất nghiệp; quyết định, hành vi trong hoạt động thanh tra về bảo hiểm thất nghiệp

  1. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
  2. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định, hành vi khác trong hoạt động thanh tra về bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Điều 51. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại; khởi kiện đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp

1. Quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp là quyết định, hành vi của cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm công, người có thẩm quyền trong cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm công thực hiện hoặc không thực hiện trách nhiệm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

2. Việc khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện như sau:

a) Khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ việc làm công nơi người có quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của tổ chức dịch vụ việc làm công hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến người đứng đầu cơ quan chuyên môn về việc làm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật;

c) Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm công được quy định như sau:

a) Người đứng đầu cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm công có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp của mình, của người có thẩm quyền do mình trực tiếp quản lý;

b) Người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp đã được người đứng đầu cơ quan bảo hiểm xã hội cấp dưới giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết;

c) Người đứng đầu cơ quan chuyên môn về việc làm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp đã được người đứng đầu tổ chức dịch vụ việc làm công giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

4. Thời hiệu khiếu nại, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

Điều 52. Tố cáo, giải quyết tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp

  1. Việc tố cáo, giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ về bảo hiểm thất nghiệp và hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
  2. Cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm công có trách nhiệm giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc chấp hành quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
  3. Trình tự, thủ tục tố cáo, giải quyết tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật quy định tại khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.”

Câu 3.

Khi mức lương tối thiểu vùng tăng, doanh nghiệp có phải tăng lương cho người lao động không?

Trả lời:

Khi mức lương tối thiểu vùng tăng, doanh nghiệp không bắt buộc phải tăng lương cho tất cả người lao động, mà việc tăng lương phụ thuộc hoàn toàn vào mức lương hiện tại của từng người so với quy định mới. Căn cứ Điều 90 và Điều 91 quy định về tiền lương và mức lương tối thiểu được quy định như sau:

“Điều 90. Tiền lương

  1. Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
  2. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
  3. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.

Điều 91. Mức lương tối thiểu

  1. Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội.
  2. Mức lương tối thiểu được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ.
  3. Mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp.
  4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quyết định và công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia.”

Theo quy định tại Bộ luật Lao động, nguyên tắc điều chỉnh lương của doanh nghiệp được chia thành 2 trường hợp cụ thể:

+ Doanh nghiệp bắt buộc phải tăng lương khi nào?

Doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh tăng lương cho người lao động nếu thuộc một trong hai trường hợp sau:

– Mức lương hiện tại thấp hơn mức lương tối thiểu vùng mới: Doanh nghiệp bắt buộc phải tăng lương lên ít nhất bằng với mức lương tối thiểu vùng mới do Chính phủ quy định.

– Có thỏa thuận khác trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể: Nếu trong hợp đồng lao động, quy chế của doanh nghiệp hoặc thỏa ước tập thể có điều khoản ghi rõ “Mức lương của người lao động sẽ tự động tăng/điều chỉnh tỷ lệ thuận khi Nhà nước tăng lương tối thiểu vùng”, thì doanh nghiệp phải thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận.

+ Doanh nghiệp không bắt buộc phải tăng lương khi nào?

Mức lương hiện tại đã cao hơn mức lương tối thiểu vùng mới: Pháp luật không quy định doanh nghiệp phải tăng thêm lương cho những đối tượng này. Việc tăng lương lúc này hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của người lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc Quy chế lương (nâng lương định kỳ) của doanh nghiệp.

Như vậy, từ ngày 01/01/2026. Mức lương tối thiểu vùng đã chính thức tăng bình quân 7,2% theo quy định tại Nghị định 293/2025/NĐ-CP. Tất cả các lao động có mức lương thấp hơn khung mới này đều đã phải điều chỉnh từ đầu năm.

Kế hoạch từ ngày 01/01/2027. Hội đồng Tiền lương quốc gia đã chốt phương án tiếp tục tăng lương tối thiểu vùng bình quân thêm 7,8%. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát lại quỹ lương và bảng lương của mình để chuẩn bị cho đợt điều chỉnh tiếp theo này.

Lưu ý: Khi rà soát lại thang bảng lương, doanh nghiệp không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, hoặc các khoản phụ cấp độc hại, nặng nhọc theo quy định của pháp luật.

Câu 4.

Tôi được biết Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu từ 20 năm xuống còn 15 năm. Vậy người lao động chỉ cần có đủ 15 năm đóng BHXH là được hưởng lương hưu hay còn phải đáp ứng điều kiện nào khác? Mức lương hưu đối với người có 15 năm đóng BHXH được xác định như thế nào?

Trả lời:

 Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 là giảm thời gian đóng BHXH tối thiểu để người lao động có cơ hội được hưởng lương hưu hằng tháng.

Theo khoản 1 Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15), người lao động thuộc các đối tượng được quy định tại điều này, khi nghỉ việc và có thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu nếu đồng thời đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật.

Như vậy, người lao động có đủ 15 năm đóng BHXH không đương nhiên được hưởng lương hưu ngay. Ngoài điều kiện về thời gian đóng BHXH, người lao động còn phải đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu hoặc thuộc trường hợp được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định của pháp luật.

Về mức lương hưu hằng tháng, Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định mức hưởng được xác định trên cơ sở mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH và tổng thời gian người lao động đã tham gia BHXH.

Đối với lao động nữ, mức lương hưu hằng tháng bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.

Đối với lao động nam, trường hợp có thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm thì mức lương hưu hằng tháng bằng 40% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 1%. Trường hợp lao động nam có thời gian đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên thì mức hưởng được tính theo quy định tương ứng tại Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và mức tối đa bằng 75%.

Quy định giảm thời gian đóng BHXH tối thiểu xuống còn 15 năm tạo điều kiện cho những người có quá trình tham gia BHXH chưa dài vẫn có cơ hội đáp ứng điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng thay vì phải lựa chọn hưởng BHXH một lần.

Do đó, người lao động đã có thời gian đóng BHXH gần đủ 15 năm nên kiểm tra toàn bộ quá trình tham gia của mình và cân nhắc tiếp tục tham gia BHXH để đủ điều kiện hưởng lương hưu. Khi đủ điều kiện hưởng lương hưu, người lao động không chỉ được nhận lương hưu hằng tháng mà còn được hưởng các quyền lợi khác gắn với chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ pháp lý:

– Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.

– Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.

Câu 5.

Giám đốc công ty (doanh nghiệp, nhà máy, người sử dụng lao động) không trả trợ cấp thôi việc cho người lao động khi người lao động thôi việc (nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động) thì người lao động phải làm gì (khiếu nại, khởi kiện như thế nào) để đòi quyền lợi cho mình?

Trả lời:

+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động về trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động thì:

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

+ Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động về trợ cấp thôi việc thì:

2. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

4. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

Trường hợp người lao động đang làm việc tại Công ty, người sử dụng lao động  cho người lao động nghỉ việc (thôi việc, chấm dứt hợp đồng lao động) mà không trả tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động thì người sử dụng lao động đã vi phạm quy định của pháp luật về lao động.

Như vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, người lao động tiến hành đối thoại với người sử dụng lao động. Nếu đối thoại, thương lượng với người sử dụng lao động không thành công, người lao động lựa chọn một trong các phương thức giải quyết tranh chấp như sau:

  1. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo trình tự, thủ tục của pháp luật về lao động.

Người lao động có quyền lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Lao động hoặc Tòa án nhân dân giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  1. Giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục khiếu nại quy định tại Nghị định số 24/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 02 năm 2018 quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động.

Quy trình thực hiện khiếu nại như sau:

2.1. Khiều nại lần đầu

– Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu:

Theo Khoản 1 Điều 15, khoản 1 Điều 16, khoản 1 Điều 17 và khoản 1 Điều 18 Nghị định số 24/2018 quy định về người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, cụ thể như sau:

+ Người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về lao động, an toàn, vệ sinh lao động của mình bị khiếu nại.

+ Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình bị khiếu nại.

+ Người đứng đầu tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình bị khiếu nại.

+ Người đứng đầu tổ chức dịch vụ việc làm; tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình bị khiếu nại.

– Về hình thức khiếu nại:

Việc khiếu nại được thực hiện bằng một trong hai hình thức: (1) Khiếu nại bằng đơn khiếu nại; (2) Khiếu nại trực tiếp.

– Về thời hiệu khiếu nại:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 24/2018/NĐ-CP thì thời hiệu khiếu nại lần đầu là 180 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi của người sử dụng lao động bị khiếu nại.

Trường hợp quá thời hạn nêu trên, người lao động mới thực hiện khiếu nại thì cần thu thập tài liệu, chứng cứ và cung cấp cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại các tài liệu chứng minh cho việc thực hiện khiếu nại quá hạn do nguyên nhân khách quan như ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác.

– Trường hợp người lao động không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định về giải quyết khiếu nại lần đầu (theo quy định tại Điều 20 Nghị định 24/2018/NĐ-CP) mà khiếu nại không được giải quyết thì công đoàn cơ sở hướng dẫn người lao động lựa chọn quyền khởi kiện tại Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc thực hiện khiếu nại lần 2.

2.2. Khiếu nại lần 2

Trong thời hạn 30 ngày (đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn có thể gia hạn nhưng không quá 45 ngày) kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người lao động không đồng ý thì công đoàn cơ sở hướng dẫn người lao động hoặc trực tiếp khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

– Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2:

Tuỳ từng lĩnh vực phát sinh khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2 được quy định tại khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 18 Nghị định số 24/2018/NĐ-CP.

– Về hình thức khiếu nại:

Khiếu nại lần 2 được thực hiện bằng đơn khiếu nại.

– Trường hợp người lao động không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 thì công đoàn cơ sở hướng dẫn cho người lao động khởi kiện vụ án hành chính theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Tố tụng hành chính.

Văn phòng Tư vấn pháp luật