29/06/2026 5:19:54

GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT THÁNG 4/2026

Câu 1.

Ông A là người lao động của doanh nghiệp không tham gia vào tổ chức công đoàn, hiện tại Ông A đang bị xem xét xử lý kỷ luật lao động. Vậy, việc xử lý kỷ luật trong trường hợp này được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ Điều 117 và Điều 122 Bộ Luật Lao động 2019 thì kỷ luật lao động và nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động được quy định cụ thể như sau:

Điều 117. Kỷ luật lao động

Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định.

………………………

Điều 122. Nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động

1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên;

c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật;

d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.

2. Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.

3. Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.

4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật này;

d) Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

5. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

6. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động.”

Do đó, từ ngày 01/01/2021 sẽ không còn khái niệm tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và được thay thế thành tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Bộ Luật Lao động 2019, tổ chức đại diện người lao động bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động. Trong đó, công đoàn là tổ chức trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (tổ chức đại diện cho người lao động đã và đang tồn tại, được coi là tổ chức đại diện cho người lao động cho đến nay). Đồng thời, từ 01/01/2021, có thêm tổ chức đại diện cho người lao động đó là tổ chức của người lao động. Tổ chức của người lao động được hiểu là các tổ chức đại diện cho người lao động khác so với tổ chức công đoàn cơ sở.

NLĐ được quyền lựa chọn gia nhập hoặc không gia nhập tổ chức công đoàn, pháp luật cho phép người lao động trong doanh nghiệp được quyền lựa chọn thành lập, gia nhập vào tổ chức công đoàn hoặc một tổ chức của người lao động khác.

Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở hoặc Ông A không tham gia vào tổ chức công đoàn (nếu đã thành lập công đoàn cơ sở) thì khi xử lý kỷ luật lao động đối với Ông A phải có sự tham gia của công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Câu 2.

Thương lượng tập thể là gì? Thương lượng tập thể tại doanh nghiệp có bắt buộc hay không?

Trả lời:

– Căn cứ Điều 65 Bộ luật Lao động năm 2019 thì thương lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập các điều kiện lao động, quy định mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định.

Theo Bộ luật Lao động năm 2019, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được thành lập nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Khoản 4 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp nhằm đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.

So với Bộ luật Lao động năm 2012, phạm vi chủ thể tham gia thương lượng tập thể theo Bộ luật Lao động năm 2019 được quy định chặt chẽ hơn. Theo đó, thương lượng tập thể chỉ được tiến hành khi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, trong khi Bộ luật Lao động năm 2012 cho phép thương lượng tập thể được thực hiện tại doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở.

– Căn cứ quy định tại Điều 68 Bộ luật Lao động năm 2019, khi tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở hoặc người sử dụng lao động có yêu cầu thương lượng tập thể thì bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và nội dung thương lượng, các bên phải thỏa thuận về thời gian bắt đầu, địa điểm tiến hành thương lượng. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm và các điều kiện cần thiết để tổ chức các phiên thương lượng. Thời điểm bắt đầu thương lượng không được quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng tập thể.

Như vậy, pháp luật không quy định bắt buộc mọi doanh nghiệp phải thường xuyên tổ chức thương lượng tập thể. Tuy nhiên, khi một trong hai bên là tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở hoặc người sử dụng lao động có yêu cầu thương lượng tập thể thì bên còn lại có trách nhiệm tham gia và không được từ chối. Quy định này về cơ bản được kế thừa từ Bộ luật Lao động năm 2012.

Câu 3.

Nhà nước có trách nhiệm như thế nào đối với Công đoàn? Quan hệ giữa Công đoàn và Nhà nước, với người sử dụng lao động được quy định như thế nào?

Trả lời:

– Căn cứ Điều 23 Luật Công đoàn năm 2024 thì Nhà nước có trách nhiệm đối với Công đoàn như sau:

“Điều 23. Trách nhiệm của Nhà nước đối với Công đoàn

1. Bảo đảm, hỗ trợ, phối hợp, tạo điều kiện cho Công đoàn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

2. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Công đoàn, lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động.

3. Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về công đoàn, lao động và pháp luật khác có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; cùng với Công đoàn chăm lo và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

4. Lấy ý kiến của Công đoàn khi xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan trực tiếp đến Công đoàn và quyền, nghĩa vụ của người lao động.

5. Phối hợp và tạo điều kiện để Công đoàn tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có chính sách ưu tiên tuyển dụng cán bộ công đoàn chuyên trách trưởng thành từ cơ sở, người lao động trưởng thành trong phong trào công nhân và hoạt động công đoàn.

6. Kịp thời xử lý kiến nghị của Công đoàn liên quan đến việc chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và hoạt động công đoàn.

7. Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết để Công đoàn tham gia ý kiến, phản biện xã hội trong việc xây dựng chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước có liên quan trực tiếp đến công đoàn, quyền, lợi ích của đoàn viên công đoàn, người lao động”.

– Căn cứ Điều 24 Luật Công đoàn năm 2024 thì quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước, với người sử dụng lao động được quy định như sau:

“Điều 24. Quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước, với người sử dụng lao động

Quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước, với người sử dụng lao động là quan hệ hợp tác, phối hợp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền, trách nhiệm của các bên theo quy định của pháp luật, góp phần xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”.

Câu 4.

Tôi đang làm việc tại Công ty B và kiểm tra trên ứng dụng VssID thì phát hiện Công ty B đã nhiều tháng không đóng BHXH cho tôi. Trường hợp doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn đóng BHXH thì quyền lợi của tôi được bảo vệ như thế nào?

Trả lời:

Bảo hiểm xã hội là chế độ bắt buộc mà người sử dụng lao động phải tham gia cho người lao động theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Khoản 1 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm đăng ký tham gia và đóng BHXH đầy đủ, đúng thời hạn cho người lao động.

Theo Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, trường hợp chậm đóng BHXH thì người sử dụng lao động phải đóng đủ số tiền BHXH chưa đóng và nộp thêm khoản tiền do chậm đóng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn đóng BHXH, người lao động có thể bị ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của mình khi giải quyết các chế độ chính sách về BHXH như:

– Không được giải quyết chế độ ốm đau;

– Không được giải quyết chế độ thai sản;

– Không được giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

– Không được xác nhận quá trình đóng BHXH khi nghỉ việc để hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc chế độ hưu trí.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, NLĐ có quyền:

– Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin về việc đóng BHXH;

– Kiến nghị Công đoàn cơ sở hoặc Công đoàn cấp trên trực tiếp hỗ trợ;

– Gửi đơn đến cơ quan BHXH hoặc cơ quan thanh tra lao động để yêu cầu kiểm tra, xử lý.

Theo Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, doanh nghiệp chậm đóng BHXH phải nộp đủ số tiền chưa đóng và phải nộp thêm khoản tiền do chậm đóng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, doanh nghiệp còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 13 và Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.

Câu 5.

Pháp luật quy định về việc hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề như thế nào?

Trả lời: Pháp luật quy định việc hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề tại Điều 37 Luật Việc làm năm 2025 (74/2025/QH15 ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2025) như sau:

Điều 37. Hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

1. Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

2. Trường hợp người lao động không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 của Luật này;

b) Đã nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc;

c) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ đề nghị hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết;

d) Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 09 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.

3. Thời gian hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề thực hiện theo khóa học, thời gian học nhưng tổng thời gian hỗ trợ không quá 06 tháng.

4. Nội dung hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề bao gồm:

a) Học phí;

b) Tiền ăn cho người lao động trong thời gian tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

Văn phòng Tư vấn pháp luật